Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search


Lịch công tác
Văn bản mới Huyên ủy










Thăng Bình qua video
Tên Video
No records to display.






Liên kết web
Thống kê truy cập
Tổng số lượt truy cập
Lượt trong năm
Lượt trong tháng
Lượt trong ngày
Chi tiết tin

BẢN TIN THĂNG BÌNH SỐ 44

Tác giả: BBT BẢN TIN THĂNG BÌNH Ngày đăng: 13:07 | 23/08

BẢN TIN THĂNG BÌNH SỐ 44

ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC

Thăng Bình tập trung đẩy mạnh công tác cải cách hành chính

          BBT: Thưa các đồng chí và các bạn! Ngày 27/4/2016, Tỉnh ủy Quảng Nam (khóa XXI) đã ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TU về đẩy mạnh công tác cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020. Trong Bản tin Thăng Bình số này, Biên tập viên Bản tin Thăng Bình có bài phỏng vấn đồng chí Hồng Quốc Cường - PBT Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện về việc thực hiện vấn đề này trên địa bàn huyện.

BTV: Thưa đồng chí, xin đồng chí cho biết tình hình thực hiện công tác cải cách hành chính trong thời gian qua trên địa bàn huyện Thăng Bình?

Đ/c Hồng Quốc Cường: Những năm qua, các cấp ủy đảng, chính quyền từ huyện đến cơ sở đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác cải cách hành chính đạt được những kết quả quan trọng, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Thường xuyên chú trọng việc đổi mới và nâng cao chất lượng ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Công tác cải cách thủ tục hành chính được chỉ đạo triển khai đạt hiệu quả, tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp. Cơ chế một cửa hoạt động ổn định, đáp ứng yêu cầu giải quyết hồ sơ cho tổ chức, công dân, doanh nghiệp đến giao dịch. Chất lượng giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức trên các lĩnh vực được nâng lên. Cải cách tổ chức bộ máy được triển khai đồng bộ, từng bước khắc phục được sự chồng chéo, vướng mắc trong quản lý nhà nước ở một số lĩnh vực. Công tác tuyển dụng, quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức được thực hiện đúng quy định; bước đầu triển khai áp dụng Đề án xác định vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức, viên chức. Chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức ngày càng được nâng lên, đáp ứng yêu cầu công việc. Việc thực hiện Đề án tuyển chọn và đào tạo nguồn cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn trên địa bàn huyện giai đoạn 2011-2016 (Đề án 500) theo chủ trương của tỉnh đã góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở. Các cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện tốt chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động, tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý, điều hành và phục vụ nhân dân được thực hiện, đem lại hiệu quả thiết thực.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác cải cách hành chính trên địa bàn huyện thời gian qua vẫn còn một số hạn chế: công tác tuyên truyền về cải cách hành chính chưa được sâu rộng; nhận thức của người đứng đầu ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa đầy đủ, chưa rõ ràng trong phân công, phân nhiệm thực hiện công tác cải cách hành chính; cơ chế một cửa tuy đã được triển khai ở tất cả các địa phương nhưng việc thực hiện ở một số nơi còn chưa tốt, chưa đáp ứng nhu cầu của tổ chức, công dân. Biên chế, cơ sở vật chất tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ở một số địa phương chưa đảm bảo; một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức chưa đáp ứng kịp yêu cầu thực tiễn. Hệ thống quản lý văn bản và điều hành công việc trên phần mềm Q-office đã triển khai nhưng chưa được các cơ quan, đơn vị sử dụng.

BTV: Thưa đồng chí, với tinh thần phát huy kết quả đạt được và khắc phục những nhược điểm còn tồn tại, trong thời gian đến Thăng Bình đặt ra những mục tiêu như thế nào về công tác cải cách hành chính?

  Đ/c Hồng Quốc Cường: Mục tiêu chung đặt ra với công tác cải cách hành chính trên địa bàn huyện thời gian đến là: Đổi mới tư duy từ “nền hành chính quản lý” sang “nền hành chính phục vụ”; trong đó, tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu lực hiệu quả, năng động, trách nhiệm, phục vụ nhân dân; quyết tâm nâng cao chỉ số hài lòng của tổ chức, người dân và doanh nghiệp đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước; xây dựng tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả với đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất, năng lực và tính chuyên nghiệp cao. Phấn đấu duy trì và nâng cao Chỉ số Cải cách hành chính (Par Index), chỉ số PCI của huyện trên bảng xếp hạng hàng năm của tỉnh. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất chính trị, năng lực, trách nhiệm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Từng bước thực hiện và cải thiện chỉ số PAPI.

* Giai đoạn 2016-2017:

 UBND huyện xác định năm 2016 là năm tập trung cho công tác cải cách hành chính, vì vậy năm 2016 phải rà soát thể chế hành chính đảm bảo tính thống nhất với quy định của Trung ương tỉnh và phù hợp với điều kiện thực tiễn của huyện. 100% văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đảm bảo cơ sở pháp lý, đúng thẩm quyền, nội dung, trình tự, thủ tục, thể thức và kỹ thuật trình bày.

100% thủ tục hành chính được đưa vào tiếp nhận, giải quyết tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cấp huyện và cấp xã; phấn đấu giải quyết 100% hồ sơ hành chính đúng hạn. Giảm ít nhất 30% tổng thời gian tiếp nhận, giải quyết hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của UBND huyện và UBND 22 xã, thị trấn. Nâng cao mức độ hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với dịch vụ hành chính công tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của UBND huyện và UBND 22 xã, thị trấn.

 Mức độ hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính đạt trên 75%; đối với dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công cung cấp đạt trên 70% vào năm 2017.

Hoàn thành việc rà soát lại toàn bộ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, đồng thời sắp xếp, tinh giản bộ máy trong toàn huyện; đảm bảo hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước của huyện trong sạch, tinh gọn, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả.

 Thực hiện cơ cấu cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thuộc huyện.

Thực hiện cung cấp một số thủ tục hành chính trực tuyến ở mức độ 3; thực hiện triển khai phần mềm một cửa điện tử tại một số xã, thị trấn trên địa bàn huyện; thực hiện trao đổi văn bản giữa các cơ quan nhà nước dưới dạng điện tử.

* Giai đoạn 2018-2020:

Duy trì đạt 100% hồ sơ hành chính tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của UBND huyện và cấp xã được giải quyết đúng hạn hoặc trước hạn; mức độ hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính và đối với dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công cung cấp đạt trên 85%.

Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức huyện có số lượng, cơ cấu hợp lý, đạt chuẩn trình độ và năng lực thi hành công vụ theo vị trí chức danh. Có cơ chế giám sát và xử lý nghiêm các hành vi trái pháp luật, đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức.

Các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp triển khai cơ cấu công chức, viên chức theo đúng đề án vị trí việc làm được phê duyệt; 100% cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn quy định trước khi bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý; 100% cán bộ, công chức cấp xã đạt tiêu chuẩn theo chức danh.

Đến cuối năm 2020, tỷ lệ tinh giản biên chế tối thiểu đạt 10% biên chế tỉnh giao năm 2015 theo tinh thần Nghị quyết số 39 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

 Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, địa phương; trong hoạt động công vụ của cán bộ, công chức, viên chức.

 Bảo đảm đến hết năm 2020: Triển khai mô hình một cửa, một cửa liên thông hiện đại tại UBND huyện. Hoàn thành xây dựng các cơ sở dữ liệu chuyên ngành dùng chung: dân cư, đất đai, kinh tế - xã hội, giáo dục - đào tạo, lao động việc làm, doanh nghiệp, thông tin địa lý… để làm nền tảng phục vụ công tác quản lý nhà nước và cung cấp thông tin trên Cổng thông tin điện tử huyện.

BTV: Thưa đồng chí, để thực hiện đạt được những mục tiêu trên thì cần thực hiện những giải pháp như thế nào?

Đ/c Hồng Quốc Cường: Để thực hiện đạt được những mục tiêu trên cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng và công tác điều hành của chính quyền trong việc thực hiện cải cách hành chính. Tiếp tục xác định công tác cải cách hành chính phải là khâu đột phá quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, đơn vị. Tăng cường và nâng cao hiệu quả quản lý, chỉ đạo công tác cải cách hành chính, theo đó, Chủ tịch UBND huyện, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, Chủ tịch UBND các xã, thị trấn trực tiếp chỉ đạo thống nhất việc thực hiện cải cách hành chính trong phạm vi quản lý của mình. Gắn các mục tiêu, nhiệm vụ cải cách hành chính với các chỉ tiêu, nhiệm vụ của từng ngành, từng cấp.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng, quy định của Nhà nước về công tác cải cách hành chính; kịp thời phát hiện, phổ biến, nhân rộng các điển hình tiên tiến, biểu dương các tập thể, cá nhân làm tốt, đồng thời, phê phán và xử lý những trường hợp cán bộ, công chức, viên chức nhà nước có hành vi tiêu cực, có thái độ, tác phong làm việc quan liêu, hách dịch.

Cần đề cao năng lực dự báo, nhận thức rõ mối quan hệ mật thiết giữa cải cách hành chính với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, từ đó, xây dựng mục tiêu cải cách hành chính phù hợp với từng giai đoạn và từng năm, xác định rõ các ưu tiên cải cách. Phải đảm bảo sự đồng bộ giữa mục tiêu với nhiệm vụ; có sự phối hợp đồng bộ trong việc triển khai từng lĩnh vực cải cách hành chính, giữa các lĩnh vực cải cách hành chính và giữa các ngành, các cấp.

Thực hiện nghiêm túc Quy chế theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ do UBND huyện, Chủ tịch UBND huyện giao. Đẩy mạnh, tăng cường việc kiểm tra của cấp trên đối với cấp dưới; của người đứng đầu cơ quan, đơn vị đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý trong thực thi nhiệm vụ, công vụ, triển khai, thực hiện nhiệm vụ cấp trên giao; bảo đảm nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính, khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh việc khó, giành việc dễ, thậm chí không chấp hành đúng ý kiến chỉ đạo, điều hành của cấp trên. Việc xác định trách nhiệm, trước hết thực hiện đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị.

Tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính; lấy kết quả việc triển khai, thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước làm cơ sở để đánh giá, sử dụng, đề bạt và khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức. Bắt đầu từ năm 2016, đưa nội dung đánh giá kết quả việc triển khai, thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước vào đánh giá trách nhiệm chỉ đạo, điều hành của người đứng đầu cơ quan, đơn vị và đánh giá thi đua, xếp loại hàng năm của cán bộ, công chức, viên chức. Không xem xét, đề xuất việc quy hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý nếu bị cơ quan có thẩm quyền quyết định kỷ luật do không thực hiện nghiêm nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước đối với nhiệm vụ, công việc được giao.

Chỉ đạo thực hiện có trọng tâm, trọng điểm và tạo được điểm nhấn trong từng giai đoạn và thời điểm. Mỗi năm lựa chọn ít nhất một nội dung chuyên đề lĩnh vực để tập trung chỉ đạo thực hiện có hiệu quả. Năm 2016, tập trung các lĩnh vực quản lý đầu tư, xây dựng cơ bản; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; lao động, thương binh và xã hội…. Hàng năm, đánh giá kết quả thực hiện, có giải pháp cụ thể, mô hình mới, có tính đột phá, tạo ra hiệu ứng, sức lan tỏa và hiệu quả trên thực tế, tạo được những chuyển biến rõ nét và có sức thuyết phục.

Thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc thực hiện cải cách hành chính để có những giải pháp thích hợp. Tổ chức điều tra xã hội học để đánh giá, nhận xét mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp đối với dịch vụ hành chính công tại Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả của UBND huyện, UBND 22 xã, thị trấn.

Nâng cao nhận thức và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đề cao trách nhiệm trong thực thi công vụ. Coi trọng công tác tuyên truyền, quán triệt sâu rộng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về cải cách hành chính đối với các cấp chính quyền và người dân, doanh nghiệp để tạo ra sự đồng thuận chung trong toàn xã hội để thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính. Chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu cho cán bộ, công chức, viên chức làm công tác cải cách hành chính, đặc biệt công chức làm việc tại Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả.

Bảo đảm kinh phí từ ngân sách huyện để thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính của huyện.

          BTV: Xin cám ơn đồng chí đã dành thời gian cho Biên tập viên Bản tin Thăng Bình thực hiện cuộc phỏng vấn này.

CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT VÀ THI HÀNH KỶ LUẬT

 TRONG ĐẢNG 6 THÁNG ĐẦU NĂM

VÀ MỘT SỐ NHIỆM VỤ 6 THÁNG CUỐI NĂM 2016

                                                                   Phạm Hiển

                                                          UVTV, Chủ nhiệm UBKT Huyện ủy

          Ngay từ đầu năm 2016, các cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra (UBKT) từ huyện đến cơ sở đã tập trung chỉ đạo, chủ động triển khai thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát theo Điều lệ Đảng quy định, trong 6 tháng đầu năm 2016 đã đạt được những kết quả nhất định.

          Công tác kiểm tra, giám sát của các cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT từ huyện đến cơ sở có sự chuyển biến tích cực. Huyện ủy, Ban Thường vụ Huyện ủy, cấp ủy, tổ chức đảng và UBKT từ huyện đến cơ sở đã xây dựng chương trình kiểm tra, giám sát nội dung, đối tượng bám sát với tình hình thực tế của địa phương, cơ quan, đơn vị, đồng thời đã triển khai tổ chức thực hiện theo kế hoạch đề ra, kết luận kịp thời, nghiêm túc. Qua kiểm tra, giám sát giúp tổ chức đảng và đảng viên được kiểm tra, giám sát thấy ưu, khuyết điểm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ của mình, để phát huy những kết quả đạt được và có biện pháp khắc phục thiếu sót, khuyết điểm. Qua đó, cũng giúp cho Huyện ủy và cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT từ huyện đến cơ sở rút kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết, Chỉ thị của cấp trên, ngăn ngừa tổ chức đảng và đảng viên vi phạm; nâng cao nhận thức về trách nhiệm của cấp ủy đảng, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và của đảng viên; phát huy tinh thần tự phê bình và phê bình, xây dựng đoàn kết nội bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, xây dựng đảng bộ trong sạch vững mạnh, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

          Kết quả 6 tháng đầu năm 2016, cấp ủy, tổ chức đảng từ huyện đến cơ sở tiến hành kiểm tra 13 tổ chức đảng và 23 đảng viên, giám sát chuyên đề 9 tổ chức đảng và 13 đảng viên, trong đó BTV Huyện ủy tiến hành kiểm tra 3 tổ chức đảng và 4 đảng viên thuộc diện Huyện ủy quản lý, đã kết luận 01 tổ chức đảng và 1 đảng viên, giám sát chuyên đề 04 tổ chức đảng và 09 đảng viên, đã kết luận 2 tổ chức đảng và 3 đảng viên, Ban Thường vụ Huyện ủy giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng đối với 1 đảng viên; UBKT từ huyện đến cơ sơ đã kiểm tra dấu hiệu vi phạm đối với 4 tổ chức đảng và 9 đảng viên, trong đó UBKT Huyện ủy kiểm tra dấu hiệu vi phạm đối với 4 tổ chức đảng và 6 đảng viên; kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng đối với 30 tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp, trong đó UBKT Huyện ủy tiến hành kiểm tra đối với 12 tổ chức đảng ( đạt 100% kế hoạch đề ra); kiểm tra việc thu chi tài chính đảng đối với 25 tổ chức đảng, trong đó UBKT Huyện ủy kiểm tra 6 tổ chức đảng ( đạt 100% kế hoạch đề ra); giám sát chuyên đề đối với 20 tổ chức đảng và 19 đảng viên, trong đó UBKT huyện ủy tiến hành giám sát chuyên đề đối với 6 tổ chức đảng và 6 đảng viên (đạt 100% kế hoạch đề ra). Các cấp ủy, tổ chức đảng và UBKT Huyện ủy đã thi hành kỷ luật Đảng đối với 19 đảng viên, trong đó: Ban Thường vụ thi hành kỷ luật 1 trường hợp; UBKT Huyện ủy thi hành 4 trường hợp; đảng ủy cơ sở thi hành 3 trường hợp; chi bộ trực thuộc Huyện ủy thi hành 3 trường hợp; chi bộ trực thuộc Đảng ủy thi hành 8 trường hợp; với hình thức khiển trách là 13 trường hợp, cảnh cáo là 4 trường hợp, cách chức là 1 trường hợp, khai trừ là 1 trường hợp; việc thi hành kỷ luật đảng đảm bảo nguyên tắc, phương châm, quy trình kỷ luật của đảng; nội dung vi phạm về những điều đảng viên không được làm, vi phạm về tín ngưỡng, vi phạm chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình, vi phạm trong thực hiện nhiệm vụ được giao, vi phạm đạo đức lối sống, sử dụng văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp,…. Trong 6 tháng đầu năm, UBKT từ huyện đến cơ sở tiếp nhận 25 đơn thư, trong đó UBKT Huyện ủy tiếp nhận 20 đơn, qua nghiên cứu, phân loại đơn, số đơn phải tiến hành giải quyết theo quy trình là 2 đơn trùng nội dung, đã kết luận nội dung tố cáo đúng, đảng viên có vi phạm nhưng chưa đến mức thi hành kỷ luật, kiểm điểm rút kinh nghiệm; UBKT Đảng ủy cơ sở tiến hành giải quyết theo quy trình 01 đơn, kết luận tố cáo sai.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong 6 tháng đầu năm 2016, công tác kiểm tra, giám sát cũng còn một số hạn chế, khuyết điểm như một số cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT đảng ủy cơ sở triển khai thực hiện công tác kiểm tra, giám sát còn chậm, chưa đạt theo kế hoạch đề ra; một số tổ chức đảng chưa chủ động phát hiện sai phạm của tổ chức đảng và đảng viên, chưa kịp thời tiến hành kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên có dấu hiệu vi phạm; việc xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát ở một số cấp ủy đôi lúc chưa được thường xuyên, sâu sát; một số chi bộ trực thuộc Huyện ủy không xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và đăng ký thi đua; một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa tập trung đúng mức, chưa xác định đầy đủ trách nhiệm của mình trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát; tinh thần thái độ làm việc của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ được giao, dẫn đến hạn chế kết quả lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương, cơ quan, đơn vị.

          Để khắc phục những hạn chế nêu trên, nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng 6 tháng cuối năm 2016 các cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT từ huyện đến cơ sở cần căn cứ chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát năm 2016 của cấp ủy, tổ chức đảng và UBKT cấp mình, tập trung triển khai thực hiện hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Đồng thời, tập trung vào một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

          Thứ nhất là thường xuyên tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các văn bản của cấp trên về thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật trong đảng. Tiếp tục chỉ đạo củng cố, kiện toàn đủ số lượng Ủy viên UBKT đảng ủy cơ sở.

Thứ hai là tăng cường theo dõi, nắm tình hình hoạt động của tổ chức đảng, đảng viên nhằm kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, ngăn ngừa những biểu hiện vi phạm, những vụ việc nổi cộm, không để vi phạm nhỏ thành sai phạm lớn. Chú ý những lĩnh vực dễ phát sinh sai phạm, tiêu cực như: công tác bồi thường khi thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và tái định cư các Dự án; quản lý đất công ích, cho thuê đất, chuyển quyền sử dụng đất, khai thác khoáng sản, xây dựng cơ bản, xây dựng kết cấu hạ tầng các khu tái định cư, thực hiện chính sách người có công, chính sách an sinh xã hội, tài nguyên môi trường, dân số kế hoạch hoá gia đình, việc đoàn kết nội bộ, việc chấp hành và thi hành công vụ của cán bộ, đảng viên, công tác cán bộ chuẩn bị nhân sự chủ chốt HĐND, UBND các cấp, nhiệm kỳ 2016-2021. Rút kinh nghiệm hiệu quả, chất lượng của các cuộc kiểm tra, giám sát; chú trọng công tác kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện các kết luận sau kiểm tra, giám sát.

Thứ ba là tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm Quy trình kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng đã ban hành. Mở lớp tập huấn nghiệp vụ kiểm tra, giám sát cho cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT cấp dưới.

          Thứ tư là chủ động giải quyết và phối hợp với các ban, ngành liên quan (nếu cần) giải quyết đơn thư tố cáo đối với đảng viên, tổ chức đảng, đúng thời hạn, không để tồn đọng kéo dài.

          Thứ năm là thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, đột xuất đảm bảo chất lượng, đúng thời gian quy định; triển khai thực hiện tốt các chỉ tiêu giao ước thi đua đã đăng ký, báo cáo kịp thời, đầy đủ hồ sơ đề nghị thi đua theo quy định. Đồng thời, thực hiện tốt công tác tuyên truyền, công khai về kết quả kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng theo quy định đề ra.

          Thứ sáu là UBKT Huyện ủy tham mưu Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo các ban Đảng, các tổ chức đảng trực thuộc căn cứ vào Điều lệ Đảng và văn bản quy định, hướng dẫn của Trung ương chủ động tiến hành nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo chức năng nhiệm vụ được giao.

Thứ bảy là UBKT Huyện ủy chủ trì, phối hợp với các Ban đảng, Văn phòng Huyện ủy và các cơ quan có liên quan tham mưu cho Ban Thường vụ Huyện ủy xây dựng, ban hành quy chế phối hợp kiểm tra, giám sát giữa UBKT Huyện ủy với các Ban Đảng, Văn phòng Huyện ủy và các cơ quan: Công an, Thanh tra, Viện Kiểm sát, Toà án nhân dân, Chi cục Thi hành án dân sự và Hạt Kiểm lâm huyện trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng và quy chế phối hợp giám sát giữa UBKT Huyện ủy với Hội đồng nhân dân, ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội huyện.

         

Có thể nói, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, thực hiện hiệu quả nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng là một trong nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, xuyên suốt góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên, tạo điều kiện để phát triển kinh tế, xã hội của của địa phương, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị trong toàn Đảng bộ./.

                                                                                                          P.H

TƯ LIỆU THÔNG TIN

Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9:

Lịch sử, dấu ấn và tương lai

Cách đây 71 năm, Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập. Sau đó là thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu đại biểu Quốc hội khóa I năm 1946. Những sự kiện lịch sử trọng đại này của dân tộc, có mạch nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng, gắn với Quốc dân Đại hội họp ở Tân Trào - hình ảnh tiêu biểu của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Từ “Hội nghị Diên Hồng lần thứ 2”

           Sau khi Phát xít Nhật đầu hàng quân Đồng minh, Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Tân Trào, huyện Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang) từ ngày 13 đến 15/8/1945, đã nhận định cơ hội cho nhân dân Việt Nam giành độc lập đã tới, điều kiện cho cuộc khởi nghĩa ở Đông Dương đã chín muồi. Hội nghị đã thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc.

Cuộc mít tinh phát động khởi nghĩa giành chính quyền do Mặt trận Việt Minh tổ chức tại Nhà hát Lớn Hà Nội ngày 19/8/1945. Ảnh: Tư liệu – TTXVN

           Ngày 16/8/1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh và Tổng bộ Việt Minh đã quyết định khai mạc Đại hội đại biểu quốc dân ngay tại Đình Tân Trào, huyện Sơn Dương. Tham dự Đại hội, có hơn 60 đại biểu đại diện cho các đảng phái chính trị, các đoàn thể cứu quốc, các dân tộc, tôn giáo, có cả đại biểu từ Nam bộ, Nam Trung bộ và Việt kiều ở Thái Lan, ở Lào về dự. 

           Thể hiện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân cả nước quyết định vận mệnh của dân tộc, Đại hội tán thành chủ trương của Đảng và Tổng bộ Việt Minh về Tổng khởi nghĩa; quyết định lập Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam tức Chính phủ lâm thời do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Đại hội cũng quyết định Quốc kỳ là lá cờ đỏ sao vàng năm cánh, Quốc ca là bài Tiến quân ca của nhạc sĩ Văn Cao.

           Đặc biệt, 10 chính sách lớn của Việt Minh đã được Đại hội thông qua như: Giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên nền tảng hoàn toàn độc lập; võ trang nhân dân, phát triển Quân giải phóng Việt Nam; ban bố những quyền của dân, cho dân: nhân quyền; tài quyền (quyền sở hữu); dân quyền; quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ (tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, ngôn luận, hội họp, đi lại), dân tộc bình quyền, nam nữ bình quyền; chia lại ruộng đất cho công bằng, giảm địa tô, giảm lợi tức, hoãn nợ, cứu tế nạn dân; ban bố Luật Lao động: Ngày làm 8 giờ, định lương tối thiểu, đặt xã hội bảo hiểm; xây dựng nền kinh tế quốc dân, nền quốc dân giáo dục, kiến thiết nền văn hóa mới...

          Thắng lợi của Đại hội đại biểu quốc dân là một biểu hiện sáng tạo độc đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc vận dụng và thực thi từng bước tư tưởng dân quyền ngay trong tiến trình đấu tranh giành quyền độc lập dân tộc bằng hình thức tổ chức Quốc dân Đại hội để thông qua quyết sách chuyển xoay vận nước bằng Tổng khởi nghĩa, xóa bỏ chế độ cũ, thi hành 10 chính sách của Việt Minh, đặt cơ sở mang tính pháp lý cách mạng đầu tiên cho một chế độ mới của dân, do dân và vì dân.

          Đại hội là một chủ trương sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là “Hội nghị Diên Hồng lần thứ 2” trong lịch sử nước ta, thể hiện lòng tin sắt đá của nhân dân cả nước đối với Đảng và Bác Hồ kính yêu. Đúng như Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Quốc dân Đại hội Tân Trào có ý nghĩa là một Quốc hội lâm thời, hay một tiền Quốc hội. Quốc dân Đại hội tạo căn cứ pháp lý cho sự ra đời chế độ cộng hòa dân chủ của nước ta, cho một Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi cách mạng đã thành công. Đại hội thông qua Chương trình 10 điểm giao cho Ủy ban giải phóng thi hành. Có thể coi chương trình 10 điểm này như là Hiến pháp lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”.

Đến trang sử hào hùng

          Quốc dân Đại hội bế mạc trong không khí Tổng khởi nghĩa sôi sục. Lãnh tụ Hồ Chí Minh, Chủ tịch Ủy ban dân tộc giải phóng đã gửi thư kêu gọi đồng bào toàn quốc trước giờ phút đấu tranh quyết liệt và khẩn trương: Tổng khởi nghĩa. Bức thư có đoạn viết: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta... Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!”.

          Từ quyết sách Tổng khởi nghĩa và thư kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc Tổng khởi nghĩa đã nhanh chóng giành được thắng lợi, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội (19/8), Huế (23/8), Sài Gòn (25/8). Trong đó, cuộc khởi nghĩa nổ ra thắng lợi ở Hà Nội ngày 19/8, đã gây một tiếng vang lớn, góp phần làm tan rã nhanh chóng hệ thống bộ máy chính quyền tay sai của Nhật trong cả nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, 25 triệu đồng bào ta, với tinh thần "đem sức ta mà giải phóng cho ta" đã nhất tề vùng lên giành chính quyền trong 15 ngày, từ 14 đến 28/8/1945. Chính quyền trong cả nước đã thuộc về nhân dân. Vua Bảo Đại xin thoái vị để "được làm dân tự do của một nước độc lập".

          Cách mạng tháng Tám thành công mở đầu trang sử mới của dân tộc. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời làm lễ ra mắt quốc dân tại vườn hoa Ba Đình (Hà Nội). Hàng chục vạn đồng bào Hà Nội và các tỉnh lân cận tập hợp ở vườn hoa Ba Đình để nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập. Đoạn kết của Tuyên ngôn viết: “Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.

         Tiếp đó Chính phủ lâm thời tuyên bố nhậm chức. Chính phủ lâm thời chính là Ủy ban dân tộc giải phóng được mở rộng nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân theo đề nghị của Hồ Chủ Tịch ngày 27/8. Chính phủ lâm thời gồm 15 vị, do cụ Hồ Chí Minh làm Chủ Tịch Chính phủ lâm thời kiêm Bộ trưởng Ngoại giao. Chính phủ lâm thời gồm có 13 bộ: Ngoại giao, Nội vụ, Thông tin Tuyên truyền, Quốc phòng, Thanh niên, Kinh tế Quốc gia, Cứu tế xã hội, Tư pháp, Y tế, Giao thông công chính, Lao động, Tài chính và Quốc gia Giáo dục.

           Cuối buổi mít tinh, cả vạn người cùng hô: Kiên quyết một lòng ủng hộ Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ủng hộ Hồ Chủ tịch cùng Chính phủ giữ quyền độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc, chống mọi mưu mô xâm lược dù có phải chết cũng cam lòng... Từ đó, ngày 2/9 trở thành ngày hội Độc lập, ngày Quốc khánh của dân tộc ta. Như vậy, độc lập, tự do - tư tưởng cách mạng chủ yếu của Chủ Tịch Hồ Chí Minh được phác thảo trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (2/1930), là mục tiêu đấu tranh trực tiếp của Mặt trận Việt Minh (1941) và của Đại hội đại biểu quốc dân Tân Trào (8/1945) đã thành hiện thực bằng sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

          Ngày 6/1/1946, cuộc Tổng tuyển cử trong cả nước được tiến hành bầu ra Quốc hội, đã lập nên Chính phủ Hồ Chí Minh hợp hiến, hợp pháp, được toàn dân tín nhiệm, tin tưởng, động viên toàn dân phát huy nội lực để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sau đó, cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, mở đường cho các dân tộc xóa bỏ chủ nghĩa thực dân cũ trên cả hành tinh và cuối cùng, qua hơn 20 năm kháng chiến vô cùng oanh liệt, nhân dân Việt Nam đã đánh tan được quân xâm lược Mỹ và ngụy quyền, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc vào mùa xuân năm 1975.

         Nhìn lại những thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam đã giành được trong thế kỷ XX, chúng ta tự hào về dân tộc ta, một dân tộc anh hùng, thông minh và sáng tạo. Tự hào về Đảng ta - Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện - một lòng một dạ chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

                                                                                                  (Sưu tầm từ Baotintuc.vn)

Sự ra đời của hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước

                                                                                                Phan Chí Thanh

           Sau Cách mạng tháng Tám, nước ta gặp muôn vàn khó khăn và đứng trước tình thế hiểm nghèo như  “ngàn cân treo sợi tóc” - phải đối phó với ba mối đe doạ lớn, đó là nạn ngoại xâm của giặc Tuởng ở miền Bắc và giặc Pháp ở miền Nam; sự chống phá của các lực lượng phản cách mạng và hậu quả nặng nề của chiến tranh; giặc đói, giặc dốt và nền tài chính bị mất cân đối nghiêm trọng.

          Trước tình hình đó, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện chính sách ngoại giao sáng suốt, tài tình, khôn khéo: hoà với quân Tưởng ở miền Bắc và kháng Pháp ở miền Nam, đến khi Pháp và Tưởng cấu kết với nhau để Pháp tiến ra Bắc, ta chủ trương tạm hoà với Pháp, chủ động ký với Pháp Hiệp định sơ bộ (ngày 06/03/1946) và bản tạm ước (ngày 14/09/1946) buộc Pháp phải công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do, có chủ quyền, dùng Pháp để đuổi 20 vạn quân Tưởng và bọn tay sai ra khỏi lãnh thổ nuớc ta và tranh thủ thời gian hoà hoãn để chuẩn bị lực lượng nhằm đối phó lâu dài với dã tâm xâm lược của thực dân Pháp. Đồng thời lãnh đạo nhân dân xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng còn non trẻ; xây dựng, củng cố lực lượng chính trị của quần chúng; tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc; tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội (ngày 06/01/1946). Sau thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử, ngày 02/03/1946 Quốc hội họp phiên đầu tiên bầu ra Chính phủ liên hiệp chính thức do Chủ Tịch Hồ Chí Minh đứng đầu và Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta vào tháng 12 năm 1946. Có thể nói sự hoạt động của hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước đã đóng vai trò quan trọng làm nên những thắng lợi trên của nước Việt Nam mới.

          Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, các ngành tiếp tục thể hiện vai trò quan trọng của mình trong việc thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ trên tất cả các mặt trận: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá và ngoại giao; xây dựng khối đoàn kết toàn dân, củng cố khối liên minh công nông và trí thức; chăm lo củng cố và xây dựng Nhà nuớc Dân chủ Cộng hoà, thường xuyên kiện toàn bộ máy kháng chiến từ Trung ương đến địa phương; tập trung xây dựng kinh tế kháng chiến, kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc thông qua việc phát hành giấy bạc Tài chính, giấy bạc Cụ Hồ, giấy bạc Việt Nam vào cuối năm 1945, giấy bạc Quốc gia vào năm 1951, ban hành hệ thống ngân sách Nhà nước tháng 7/1946, phát hành công trái năm 1947, công phiếu kháng chiến năm 1948, ban hành chính sách thu thuế thay cho chính sách động viên đóng góp tự nguyện, từng bước xây dựng nền tài chính cách mạng ngày một trưởng thành, tạo ra điều kiện vật chất rất quan trọng phục vụ kháng chiến; xây dựng nền văn hoá mới theo nguyên tắc: “Khoa học, dân tộc và đại chúng” để chống lại văn hoá nô dịch của địch, xây dựng, phát triển nền văn hoá kháng chiến với phương châm “kháng chiến văn hoá và văn hoá hoá kháng chiến”, tăng cường đoàn kết, mở rộng văn hoá Quốc tế nhằm “thêm bạn, bớt thù”, làm cho nhân dân thế giới hiểu và ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta.

          Từ năm 1954, đất nước bước vào thời kỳ xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, vai trò của các ngành được tăng cường nhằm khôi phục kinh tế đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

           Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng năm 1975, các ngành tập trung thực hiện chủ trương thống nhất đất nước về mặt Nhà nước, đưa cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội, mà trọng tâm là tổ chức Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội chung cho cả nước, thống nhất hệ thống tổ chức hành chính Nhà nước, nhanh chóng hình thành bộ máy từ Trung ương đến xã, phường, thị trấn. Đặc biệt trong công cuộc đổi mới đất nước, với chính sách đối ngoại rộng mở, trong xu thế hội nhập và hợp tác Quốc tế, các ngành đã không ngừng đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức, nâng cao năng lực quản lý hành chính nhà nước, từng bước hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm huy động mọi nguồn lực phục vụ Công nhiệp hoá - hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

           Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử của đất nước, tên gọi các Bộ, các Ngành có sự thay đổi nhưng ngày 28 tháng 8 năm 1945 luôn là điểm mốc lịch sử đánh dấu sự ra đời của hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà từ cơ sở đó Thủ tướng Chính phủ thống nhất lấy ngày 28/8 hằng năm làm ngày truyền thống của các ngành: ngoại giao, Nội vụ, Văn hoá- thông tin, Lao động- Thương binh và Xã hội, Tư pháp, Giao thông vận tải, Tài chính, Công nghiệp và Văn phòng các cấp.

                                                                                                           P.C.T

Sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện trên phương tiện nghề cá

cần tuân thủ quy định của pháp luật

                                                                                                  Huỳnh Định

Theo kết quả khảo sát của Phòng Văn hóa và Thông tin, hiện nay huyện Thăng Bình có  hơn 130 tàu cá có công suất trên 90 CV ở các xã: Bình Minh, Bình Hải, Bình Dương và Bình Nam chưa có giấy phép sử dụng tần số, trong đó tập trung nhiều nhất là xã Bình Minh. Vấn đề này ảnh hưởng không nhỏ đến công tác phối hợp quản lý thiết bị phát sóng vô tuyến điện trên phương tiện nghề cá.

Nhằm tuyên truyền, phổ biến cho ngư dân về các quy định của pháp luật đối với việc sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện, sử dụng đúng mục đích các tần số quy định cho thông tin liên lạc, an toàn, cứu nạn, dự báo thời tiết nhằm đảm bảo khai thác có hiệu quả, đồng bộ, không gây can nhiễu có hại giữa các hệ thống thông tin vô tuyến điện trên biển và các hệ thống thông tin vô tuyến điện khác, Sở Thông tin và Truyền thông phối hợp với UBND huyện Thăng Bình vừa tổ chức lớp tập huấn tuyên truyền về sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện cho hơn 100 ngư dân ở các xã ven biển trên địa bàn huyện Thăng Bình.

(Ảnh: Lớp tập huấn tuyên truyền về sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện cho

 ngư dân  Thăng Bình.)

Tần số là một tài nguyên quý hiếm của Quốc gia nên người dân cần sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, đúng mục đích tần số đã được cấp phép. Khi trang bị thiết bị vô tuyến điện đặt trên phương tiện nghề cá thì phải được cơ quan chức năng cấp phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện theo đúng qui định của Pháp luật. Việc trang bị thông tin liệc lạc vô tuyến điện trên biển nhằm mục đích liên lạc với người thân trên đất liền qua đài Thông tin duyên hải hoặc đài bờ tàu cá;  liên lạc với các tàu cá trong tổ, đội sản xuất; thu các bản tin về thông tin an toàn trên biển và các thông tin dự báo thời tiết; gọi bắt liên lạc và phát tin cấp cứu; liên lạc với Bộ đội biên phòng trong những trường hợp cần thiết; gọi các đài Thông tin duyên hải khi tàu gặp sự cố cần trợ giúp.

Việc cấp giấy phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện đặt trên tàu cá giúp cho ngư dân sử dụng tần số, nguồn tài nguyên Quốc gia một cách hợp pháp, đúng quy định của Chính phủ, góp phần đảm bảo an ninh, chủ quyền Quốc gia trên biển; được các cơ quan chức năng đáp ứng các nhu cầu về thông tin liên lạc, dự báo thời tiết, an ninh, an toàn, cứu nạn và cứu hộ trên biển. Khi ngư dân sử dụng tần số liên lạc trên biển cần lưu ý, phải sử dụng tần số đúng mục đích, có hiệu quả, tránh gây can nhiễu lẫn nhau làm ảnh hưởng đến thông tin an toàn cứu nạn và cứu hộ; đảm bảo thông tin liên lạc phục vụ mục đích đánh bắt, nuôi trồng, kinh doanh thủy hải sản và với gia đình được thông suốt.

Theo quy định của pháp luật thì tất cả các tàu cá có trang bị thiết bị phát sóng vô tuyến điện sử dụng băng tần HF liên lạc tầm xa (phổ biến là các loại máy ICOM và thiết bị Vertex Standart VX-17000) đều phải đăng ký xin cấp giấy phép sử dụng tần số vô tuyến điện.                                                                                Các thiết bị phát sóng vô tuyến điện liên lạc tầm gần đặt trên phương tiện nghề cá hoạt động ở băng tần C (từ 26,96 MHz đến 27,41 MHz, như các loại  máy Super star, Galaxy… ) thuộc loại thiết bị vô tuyến điện được sử dụng có điều kiện và không phải xin giấy phép tần số vô tuyến điện. Tất cả tàu thuyền đánh bắt xa bờ lắp máy có công suất 90 sức ngựa trở lên, phải lắp máy thông tin liên lạc tầm xa và phải liên lạc hai chiều với đất liền. Theo Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện: Tổ chức, cá nhân sử dụng tần số, thiết bị phát sóng vô tuyến điện có công suất nhỏ hơn hoặc bằng 150W không có giấy phép sẽ bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

Việc hướng dẫn cấp phép sử dụng tần số phát sóng chung cũng giúp cho các ngành chức năng và các địa phương chủ động hơn trong công tác quản lý tàu thuyền và kịp thời hỗ trợ khi có tình huống không may xảy ra. Vì vậy bà con ngư dân cần tuân thủ quy định của pháp luật, thực hiện đầy đủ thủ tục xin cấp phép sử dụng tần số vô tuyến điện trên phương tiện nghề cá để sử dụng đúng luật, tiết kiệm, an toàn và được giúp đỡ kịp thời khi gặp sự cố trên biển. 

                                                                                                                                    H.Đ

Chưa có bằng chứng cho thấy sóng điện từ của các trạm thu, phát sóng

thông tin di động có ảnh hưởng đến sức khỏe của con người

                                                                                           Đức Hạnh

         Trong tháng 7.2016, một số hộ dân ở thôn An Mỹ, xã Bình An, huyện Thăng Bình đã có đơn kiến nghị gửi chính quyền và các phòng, ban liên quan đề nghị giải quyết việc xây dựng trạm thu, phát sóng thông tin di động (BTS) tại địa phương vì lo sợ ảnh hưởng đến sức khỏe. Sự việc này trước đây cũng đã xảy ra ở một số nơi trên địa bàn huyện Thăng Bình nói riêng và tỉnh Quảng Nam nói chung. Các cơ quan chức năng của tỉnh và huyện cũng đã tổ chức tuyên truyền, giải thích đến bà con nhân dân trên địa bàn huyện, tuy nhiên có lúc, có nơi bà con vẫn còn băn khoăn, lo lắng về vấn đề này nên dẫn đến tình trạng khiếu nại tập thể.

           Liên quan đối với việc ảnh hưởng của các trạm thu phát sóng thông tin di động đối với sức khỏe con người, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu quy mô và tốn kém. Tổ chức y tế thế giới (WHO), sau quá trình nghiên cứu cùng các tổ chức khác: Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU), Ủy ban phong chống bức xạ ion hóa (ICNIRP) và đã đưa ra kết luận: “chưa có bằng chứng cho thấy sóng điện từ của các trạm thu phát sóng thông tin di động gây ra có ảnh hưởng đến sức khỏe của con người” (trích từ tài liệu WHO – EMF and public health - Fact sheet No.193).

Tại Việt Nam, liên quan đến vấn đề này, ngày 20/3/2006, Bộ Khoa học và Công nghệ đã có công văn số 616/BKHCN-BKHCNN báo cáo Văn phòng Chính phủ nêu rõ: “Qua các kết quả nghiên cứu trong nước và nước ngoài về ảnh hưởng của các hệ thống thông tin di động được thống kê đến thời điểm nay có thể kết luận rằng: chưa có bằng chứng cho thấy trường điện từ của các trạm thu phát thông tin di động và các thiết bị điện thoại di động gây ảnh hưởng có hại cho con người”. Bộ Bưu chính, Viễn thông (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) cũng đã có công văn số 1251/BBCVT-KHCN ngày 28/6/2006 gửi Văn phòng Chính phủ đề nghị xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ có kết luận để nhân dân yên tâm; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin phục vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

 Ngày 15 tháng 06 năm 2006, Bộ Bưu chính, Viễn thông đã có Quyết định số 19/2006/QĐ-BBCVT quy định bắt buộc áp dụng Tiêu chuẩn TCVN 3718-1:2005 “Quản lý an toàn trong trường bức xạ tần số radio - phần 1: mức phơi nhiễm lớn nhất trong dải tần 3Khz đến 300 Ghz” đối với các trạm thu phát thông tin di động. Theo văn bản này, mỗi trạm BTS phải được kiểm định và tuân thủ Tiêu chuẩn TCVN 3718-1:2005 thì mới được hoạt động. Tiêu chuẩn TCVN 3718-1:2005 được gọi là mức phơi nhiễm đối với một phần hoặc toàn bộ cơ thể con người trong trường tần số vô tuyến ở dải tần từ 3 kHz đến 300 GHz do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành ngày 07/02/2006 dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế, phù hợp với các khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Ủy ban phong chống bức xạ ion hóa (ICNIRP). Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thông tin di động phải áp dụng để đảm bảo an toàn cho những cán bộ, công nhân làm việc với các trạm thu phát sóng thông tin di động và những người dân sống xung quanh.

Như vậy, liên quan đến đến việc ảnh hưởng của các trạm thu phát sóng thông tin di động (trạm BTS) đến sức khỏe con người, đã có nhiều văn bản trả lời của các cơ quan nhà nước về vấn đề này. Hiện nay, thông tin di động đã trở thành nhu cầu thiết yếu cho mọi người. Trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói chung và huyện Thăng Bình nói riêng, cơ sở hạ tầng thông tin di động đang được phát triển, mở rộng nhằm phục vụ nhu cầu thông tin liên lạc. Việc này góp phần rất lớn trong việc cải thiện đời sống văn hóa tinh thần cho người dân, tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế - xã hội. Trên địa bàn huyện Thăng Bình hiện có hơn 150 trạm BTS đang hoạt động, theo kế hoạch số 137/KH-STTTT ngày 16/3/2016 của Sở Thông tin & Truyền thông về phát triển hạ tầng viễn thông trên địa bàn tỉnh Quảng Nam năm 2016 thì trong năm nay huyện Thăng Bình sẽ phát triển thêm 57 trạm BTS để phục vụ nhu cầu thông tin liên lạc.

Đối với trường hợp cụ thể trong đơn kiến nghị của một số hộ dân ở thôn An Mỹ, xã Bình An, trạm thu, phát sóng di động được Công ty TNHH Xây Dựng Thương mại Dịch vụ 55 xây trên đất của hộ bà Trần Thị Tư, thôn An Mỹ, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K981914 do UBND huyện Thăng Bình cấp ngày 16/11/1998; đã được Sở Thông tin & Truyền thông Quảng Nam thống nhất chủ trương tại công văn số 522/STTTT-BCVT ngày 07/7/2016 trên cơ sở biên bản kiểm tra vị trí của Sở Thông tin & Truyền thông cùng các Phòng chức năng của huyện Thăng Bình và cán bộ địa chính xã Bình An. Vị trí xây dựng trạm BTS này phù hợp với kế hoạch số 137/KH-STTTT ngày 16/3/2016 của Sở Thông tin & Truyền thông về phát triển hạ tầng viễn thông trên địa bàn tỉnh Quảng Nam năm 2016. Do đó, Phòng Văn hóa và Thông tin đã phối hợp với UBND xã Bình An và các phòng, ban liên quan tổ chức cuộc họp nhằm giải thích và tuyên truyền những nội dung trên đối với các hộ dân đứng tên kiến nghị trong đơn, đồng thời đề nghị UBND huyện chỉ đạo UBND xã Bình An nói riêng và các địa phương khác trong huyện nói chung có kế hoạch phổ biến, tuyên truyền tại địa phương và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư cơ sở hạ tầng thông tin phục vụ phát triển kinh tế - xã hội theo đúng quy định của pháp luật.

                                                                                    Đ.H

XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

                                                                                     

Phấn đấu giai đoạn 2016-2020 sẽ có thêm 9 xã đạt chuẩn Nông thôn mới

                                                                    HOÀI NAM

          Đến nay Thăng Bình có 6 xã đạt chuẩn nông thôn mới (NTM), 11 xã đạt từ 10-14 tiêu chí, 4 xã đạt từ 5-9 tiêu chí NTM. Mục tiêu đến năm2020, toàn huyện sẽ có 15 xã đạt chuẩn NTM, trước mắt trong năm 2016 phấn đấu có thêm 2 xã là Bình Định Nam và Bình Phú sẽ đạt chuẩn NTM. Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả trong triển khai chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM, song chất lượng các tiêu chí ở những xã đạt chuẩn chưa cao, không đồng đều, thu nhập bình quân của người dân còn thấp, nhiều địa phương còn nặng về đầu tư kết cấu hạ tầng, chưa có hướng mở trong các hình thức sản xuất để nâng cao đời sống nhân dân.

          Nguyên nhân những hạn chế trên do một số tiêu chí chưa sát với thực tế nên việc vận dụng vào tình hình của huyện gặp nhiều khó khăn. Nhưng chủ quan mà nói thì mặt trận, hội đoàn thể chưa thật sự vào cuộc, công tác tuyên truyền vận động chưa đạt hiệu quả, nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân còn nhiều hạn chế, e ngại, không có các giải pháp táo bạo trong thực hiện chương trình MTQG về xây dựng NTM. Người dân còn trông chờ, ỷ lại vào sự đầu tư của Nhà nước. Công tác phối hợp giữa các ngành của huyện với các xã chưa được thường xuyên, đồng bộ, chỉ đạo điều hành chưa quyết liệt, tinh thần trách nhiệm chưa cao. Ban phát triển thôn chưa thể hiện hết trách nhiệm của mình, nhân dân tham gia các buổi tập huấn, tuyên truyền về nông thôn mới chưa nhiều. Việc huy động nội lực của dân trong xây dựng NTM còn nhiều hạn chế.

          Để triển khai tốt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM trong thời gian tới cần tiếp tục củng cố, kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống tổ chức chỉ đạo, điều hành, quản lý thực hiện chương trình ở các cấp, trong đó có bộ phận chuyên trách Văn phòng điều phối NTM ở huyện. Xây dựng kế hoạch và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên trong Ban chỉ đạo, bám sát các địa phương để đôn đốc, kiểm tra, chỉ đạo hướng dẫn và giám sát quá trình thực hiện ở cấp xã.

          Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền vận động cán bộ, đảng viên và nhân dân về mục tiêu, nội dung, phương châm thực hiện chương trình MTQG xây dựng NTM. Coi công tác tuyên truyền, vận động là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của các cấp ủy Đảng, chính quyền, mặt trận và hội đoàn thể các cấp để mọi người nhận thức được rằng chương trình MTQG xây dựng NTM là chương trình phát triển kinh tế xã hội tổng thể, toàn diện và lâu dài, thường xuyên và liên tục trong nông thôn do cộng đồng dân cư và người dân làm chủ thể, Nhà nước chỉ đóng vai trò hỗ trợ. Thực hiện tốt công tác đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ xây dựng NTM cấp huyện, cấp xã để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

 

         

           

Nông dân trong huyện đầu tư phát triển nghề làm nấm rơm mang lại hiệu quả kinh tế cao.                                                                                                                                                                                                                               Ảnh : Giang Biên

          Rà soát thực trạng nông thôn, qua đó điều chỉnh, bổ sung quy hoạch xây dựng NTM của từng xã, trước mắt tập trung điều chỉnh đối với những xã dự kiến đạt chuẩn giai đoạn 2016 -2020 cho phù hợp với nhu cầu nội lực của địa phương và khả năng hỗ trợ của ngân sách huyện.

           Triển khai thực hiện cụ thể đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, bám sát các chỉ tiêu nhiệm vụ và triển khai đồng bộ các giải pháp trong từng lĩnh vực cụ thể, từng bước chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng phát huy thế mạnh của vùng, của từng địa phương, nhân rộng các mô hình kinh tế có hiệu quả. Thực hiện tốt việc dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất, tổ chức sản xuất hàng hóa theo quy hoạch, sản xuất lương thực, thực phẩm sạch ngay từ ý thức của nông dân. Đẩy mạnh cơ giới hóa các khâu trong sản xuất, xây dựng liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị. Chú trọng liên kết sản xuất giống để nâng cao thu nhập cho nông dân, thực hiện có hiệu quả đề án phát triển ngành chăn nuôi, trong đó phát triển ngành chăn nuôi trên nền đệm lót sinh học và an toàn dịch bệnh, linh hoạt chuyển đổi nghề nông sang phi nông nghiệp như may mặc, các nghề truyền thống. Tập trung phát triển kinh tế biển, thực hiện tốt nghị định 67 của Chính phủ hỗ trợ vốn cho ngư dân đóng tàu, vươn khơi, bám biển đánh bắt hải sản và bảo vệ biên giới quốc gia.

           Phát huy có hiệu quả nguồn lực trong dân, tích cực vận động nhân dân đóng góp sức người sức của, hiến vật kiến trúc, cây trồng, đất đai trong xây dựng các công trình phúc lợi. Việc huy động nguồn lực theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân hưởng thụ”. Lồng ghép nhiều nguồn lực để ưu tiên đầu tư cho các xã đạt chuẩn NTM giai đoạn 2016 - 2020, phát huy tốt 2 nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước và vốn tín dụng thương mại để triển khai xây dựng NTM.

           Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, hoàn thành các thiết chế văn hóa ở nông thôn. Đảm bảo tốt vệ sinh môi trường, giữ vững an ninh trật tự xã hội, ngăn chặn kịp thời các hoạt động tội phạm, tệ nạn xã hội từng địa bàn dân cư.

            Đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình nông thôn mới đã được bố trí vốn, đảm bảo chất lượng, tiến hành giải ngân, thanh quyết toán đúng quy định. Đối với các công trình có quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản nên giao cho cộng đồng người hưởng lợi thực hiện tạo điều kiện cho người dân có việc làm và giám sát chất lượng công trình.

          Một điều rất quan trọng đó là, những địa phương nếu được công nhận đạt chuẩn NTM phải đạt được sự hài lòng, thỏa mãn của người dân, có như vậy người dân mới thực sự đồng lòng chung tay xây dựng NTM.

                                                                                                                              H.N

    Cây mới, cách làm mới ở Bình Nam

                                                                   

                                                                             GIANG BIÊN – VĂN TOÀN

 

 

         “ Cây mới”

          Lần đầu tiên trong vụ hè thu năm nay, gia đình bà Nguyễn Thị Liên (thôn Nghĩa Hòa, xã Bình Nam) mới có thể thu hoạch được 1 sào đậu phộng trên cánh đồng bỏ hoang do bị nhiễm mặn. Từ đầu năm 2015, UBND xã Bình Nam phối hợp với Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ trồng thử nghiệm giống đậu phộng chịu mặn, chịu hạn (LDH 09) trên chân ruộng của gia đình bà Liên. Qua quá trình trồng, gia đình bà nhận thấy giống đậu LDH 09 phù hợp, chống mặn tốt và năng suất cao hơn so với giống đậu địa phương. Chỉ tính riêng 1 sào trồng thử nghiệm, gia đình bà thu về 1,2 tạ đậu. Bà Liên cho biết: “Bà con chúng tôi ở đây phấn khởi lắm, bởi lâu nay đất nơi này bị bỏ hoang, nay trồng được đậu phộng lại có thêm thu nhập”.

    

     Nông dân Bình Nam phấn khởi thu hoạch giống đậu phụng LHD09. Ảnh GB-VT

          Trước những diễn biến bất lợi của thời tiết và tình trạng xâm nhập mặn, hơn 50 ha sản xuất đậu phộng của 2 thôn Đông Tác và Nghĩa Hòa lâu nay bị bỏ hoang diện tích không thể gieo trồng trong thời gian dài, Viện khoa học kỹ thuật Duyên hải Nam Trung Bộ đã nghiên cứu và đưa giống đậu phụng LDH 09 vào trồng tại vùng đất này. Ông Bùi Ngọc Thao, cán bộ kỹ thuật Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ cho biết:

           “Năm đầu tiên chúng tôi triển khai 1 ha với 15-20 giống đậu các loại. Các vụ tiếp theo, chúng tôi loại dần những loại giống không thích hợp. Đến bây giờ có thể khẳng định giống đậu LDH 09 triển vọng với vùng đất này. Loại giống này chịu mặn, chịu hạn tốt, năng suất cao. Đặc biệt kháng được bệnh héo xanh vi khuẩn trên cây đậu hợp, rất phù tại địa phương”. Còn ông Nguyễn Xuân Cảnh – PCT UBND xã Bình Nam cho biết: “Từ vụ đông xuân năm 2016-2017, người dân thôn Đông Tác và Nghĩa Hòa xã Bình Nam có thể đưa giống đậu phộng LDH 09 vào trồng trên những chân đất bị nhiễm mặn bị bỏ hoang trước đó. Trong tương lai nếu loại đậu này ổn định năng suất thì sẽ nâng tổng diện tích trồng đậu phụng của địa phương lên con số 300 ha/năm thay vì 250 ha/năm như thời gian vừa qua”. 

          Cách làm mới

          Một thời gian dài, dầu phụng Bình Nam bán ra thị trường không được giá. Trước thực trạng đó, mới đây, UBND xã Bình Nam đã thành lập Tổ hợp tác chế biến dầu phụng, dầu mè. Đây là đầu mối tiêu thụ các sản phẩm từ cây đậu phụng. Từ đây, người nông dân đã có thể mơ về một thương hiệu dầu phụng Bình Nam tiến xa hơn nữa ở thị trường trong và ngoài tỉnh Quảng Nam. Gia đình ông Lê Thanh Long (thôn Nghĩa Hòa) mỗi năm trồng 3 sào đậu phụng. Nhờ có thân cây đậu xay làm bánh dầu mà gia đình ông luôn duy trì nuôi từ 2-3 con bò, mỗi năm xuất bán thu về khoảng 20-30 triệu đồng. Nhà nông mà thu nhập như vậy cũng gọi là khá. Nhưng gia đình ông chỉ hơi tiếc, giá dầu phụng luôn bấp bênh do không có đầu ra ổn định. Theo ông, từ 3 sào đậu, mỗi mùa gia đình ông ép được gần 100 lít dầu phụng. Để dành ăn một ít còn lại mang ra chợ bán.Tuy nhiên ngặt nổi, do nhiều người hám lợi nên đã pha trộn dầu thật với dầu giả để bán kiếm lời. Vậy nên khi đem ra chợ bán nhiều người họ không tin.

           Nắm bắt tình hình khó khăn của bà con, UBND xã Bình Nam đã thành lập Tổ hợp tác chế biến dầu phụng, dầu mè. Hiện Tổ hợp tác đã thu mua dầu phụng của bà con trong vụ đông xuân trên 1.000 lít. Riêng trong vụ hè thu đã tiến hành thu mua trên 600 lít dầu phụng. Tổ hợp tác chế biến dầu phụng, dầu mè Bình Nam gồm có 5 thành viên được tổ chức và hoạt động trên nguyên tác tự nguyện, bình đẳng, dân chủ và cùng có lợi, tự chủ về tài chính, tự trang trải các chi phí hoạt động. Tổng kinh phí đầu tư nhà xưởng, máy móc, thiết bị gần 350 triệu đồng, trong đó Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Thăng Bình hỗ trợ 40 triệu đồng để mua sắm kít  ép dầu. “Tổ hợp tác tự thu mua chế biến sản phẩm dầu thực vật. Ký hợp đồng trực tiếp với hộ dân có diện tích trồng đậu phụng để bao tiêu sản phẩm cho nhân dân và đảm bảo nguồn nhiên liệu chế biến cho tổ hợp tác”. Ông Tăng Năng Khả - Tổ trưởng tổ hợp tác chế biến dầu phụng, dầu mè Bình Nam cho biết.

          Từ năm 2014, UBND xã Bình Nam đã xây dựng cánh đồng mẫu trồng cây đậu phụng tại thôn Nghĩa Hòa và Đông Tác với diện tích 45 ha. Ngay sau khi quy hoạch thành cánh đồng mẫu, huyện Thăng Bình đã hỗ trợ xây dựng 3 trạm bơm, 2 ao nước nhĩ. Hiện nguồn nước từ ao nước nhĩ có thể duy trì tưới cho 20 ha diện tích trên cánh đồng mẫu. Sắp tới Trạm bơm Tứ Sơn hoàn thành và đưa vào sử dụng thì toàn bộ diện tích trồng đậu phụng sẽ được đảm bảo đầy đủ nguồn nước tưới, tạo điều kiện để đầu tư phát triển cây đậu phụng, cây mè.

          Từ việc xây dựng cánh đồng đậu phụng tập trung đến thành lập Tổ hợp tác chế biến dầu, mè và đặc biệt đã đưa giống đậu triển vọng chống chịu hạn trên những chân đất bỏ hoang để tận dụng, mở rộng diện tích cây đậu phụng lên con số 300 ha/năm. Đây là nỗ lực lớn của Bình Nam, là tiền đề quan trọng để loại cây này phát triển và có thương hiệu trong thời gian đến, góp phần tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho nông dân.                                                                                                                                                                                                                                          G.B – V.T

Xuất khẩu lao động:

Hướng đi tích cực để giảm nghèo bền vững

                                                                       

                                                                                                             ĐÔNG ANH

Xác định công tác xuất khẩu lao động (XKLĐ) là hướng giải quyết việc làm và giảm nghèo nhanh, bền vững, góp phần nâng cao thu nhập người dân, hoàn thành các tiêu chí trong xây dựng NTM, những năm qua công tác XKLĐ trên địa bàn Thăng Bình đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Từ XKLĐ, người dân không chỉ thoát được nghèo, mà còn vươn lên làm giàu

Không những chú trọng tạo việc làm tại chỗ cho người dân trong địa bàn huyện, lãnh đạo huyện đã tập trung chỉ đạo và tạo mọi điều kiện thuận lợi, khuyến khích người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài để nâng cao thu nhập, cải thiện mức sống cho nhân dân tại các địa phương. Phòng Lao động Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH) huyện đã phối hợp với Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh đưa thông tin tuyển dụng đến cơ sở để người có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài nắm bắt. Bên cạnh đó, phòng còn tích cực phối hợp với các xã, thị trấn, các tổ chức đoàn thể, hội, tổ chức thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động để từng người lao động hiểu  XKLĐ là một trong những hướng đi đúng giúp họ vươn lên thoát nghèo bền vững.

Với giải pháp tích cực, 10 năm qua (2006-2016), công tác XKLĐ ở huyện Thăng Bình đạt những kết quả quan trọng. Trong 6 tháng đầu năm 2016, toàn huyện có 19 trường hợp đi XKLĐ sang Nhật Bản và Hàn Quốc, nâng tổng số người đi XKLĐ từ trước đến nay lên 399 trường hợp, bình quân mỗi năm huyện có gần 40 người xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài, là một trong những địa phương có tỷ lệ XKLĐ cao nhất tỉnh, số tiền người lao động tích cóp gửi về địa phương hàng trăm tỷ đồng. Đa số XKLĐ qua các thị trường truyền thống như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Malayxia, Đài Loan,... Người lao động làm việc ở Hàn Quốc, Nhật Bản có thu nhập bình quân từ 20 đến 30 triệu đồng/người/tháng; ở thị trường Malaysia có thu nhập bình quân từ 6 đến 10 triệu đồng/người/tháng,... Đời sống kinh tế của những hộ có người đi XKLĐ phát triển cao, nhà cửa được xây dựng kiên cố, đầy đủ tiện nghi sinh hoạt, ngoài ra  còn có vốn tích lũy để đầu tư mở cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Hộ ông Lê Khắc Nga, thôn Vinh Đông, xã Bình Trị có 3 con đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, với nguồn thu từ lao động gởi về, gia đình ông trở thành hộ khá, giàu tại địa phương. Hay các hộ ông Lê Đức Phỉ, Trần Công Quỳnh thôn Tân An, xã Bình Minh kinh tế gia đình phát triển rõ rệt. Nhiều hộ mang vốn về đã trở thành ông chủ khi họ đầu tư mở cơ sở sản xuất, kinh doanh. Có hộ còn mua được cả ô tô để đi lại, làm ăn… Có thể nói xuất khẩu lao động đã tạo ra con đường làm giàu bền vững và hiệu quả. Những địa phương triển khai thực hiện tốt công tác này trong thời gian qua là các xã Bình Minh, Bình Hải, Bình Định Bắc, Bình Phú, Bình Chánh…

                Giới thiệu việc làm chú trọng công tác xuất khẩu lao động. Ảnh T.L

Ông Nguyễn Tấn Bình - Trưởng phòng LĐTB&XH huyện cho biết: “Công tác XKLĐ được cả hệ thống chính trị từ huyện đến các xã chú trọng, tạo mọi điều kiện thuận lợi để người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Đặc biệt, Hàn Quốc và Nhật Bản là hai thị trường được huyện định hướng cho lao động. Bởi đây là thị trường có chất lượng cao, thu nhập tốt, đào tạo con người có tay nghề cũng như tính kỷ luật cao. Sau khi về nước, lao động có được nguồn vốn tích lũy để đầu tư các cơ sở sản xuất kinh doanh phù hợp. Rất nhiều gia đình ở huyện có người lao động đi XKLĐ đều có cuộc sống ổn định, khá giả và nhận thức rõ XKLĐ chính là con đường giúp họ vươn lên thoát nghèo bền vững”.

Cũng theo ông Bình, trong thời gian tới, huyện Thăng Bình tiếp tục xác định XKLĐ là hướng giải quyết việc làm và giảm nghèo nhanh, bền vững. Huyện chú trọng tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về hoạt động xuất khẩu lao động, giúp người dân nâng cao nhận thức, nắm rõ thông tin về thị trường lao động ngoài nước. Tiếp tục đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động sang các thị trường thuộc Đông Bắc Á như Hàn Quốc, Nhật Bản thông qua các đơn vị tuyển dụng đáng tin cậy và có uy tín. Lựa chọn những doanh nghiệp có đủ tư cách pháp nhân và đựơc phép tuyển dụng lao động xuất khẩu hoạt động có uy tín trên địa bàn tỉnh, ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực XKLĐ và phòng tránh thiệt hại cho người lao động. Có kế hoạch xuất khẩu lao động hàng năm, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện hiệu quả công tác tuyên truyền, tạo nguồn, tuyển chọn lao động đi làm việc ở nước ngoài. Tiếp tục triển khai thực hiện tốt các chính sách khuyến khích xuất khẩu lao động, để mọi đơn vị, cá nhân được thụ hưởng chính sách kịp thời và chính xác; đồng thời thông báo rộng rãi, phổ biến rõ các thủ tục cho người lao động được vay vốn XKLĐ được thuận tiện.

Đẩy mạnh hoạt động thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp làm công tác XKLĐ, các cơ sở giới thiệu việc làm, tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước trên từng địa bàn, kiên quyết loại trừ các doanh nghiệp, cá nhân không đủ điều kiện, thiếu thủ tục pháp nhân hoạt động giới thiệu việc làm và XKLĐ. Đẩy mạnh liên kết với các doanh nghiệp XKLĐ có năng lực, uy tín. Tổ chức các phiên giao dịch việc làm vừa và nhỏ. Quan tâm tuyển chọn, cung ứng nguồn lao động có chất lượng... Đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn lao động có tay nghề, chuyên môn, kết hợp với việc giáo dục, nâng cao trình độ ngoại ngữ cho người lao động. Tiến hành rà soát, đánh giá nhu cầu lao động tại địa phương, số lao động hiện đang làm việc ở nước ngoài để có biện pháp quản lý hiệu quả. Đồng thời, thường xuyên phối hợp, đối thoại với các doanh nghiệp dịch vụ đưa lao động đi XKLĐ, nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện hợp đồng đưa lao động đi làm việc ngoài nước, góp phần thúc đẩy, nâng cao hiệu quả công tác XKLĐ trên địa bàn.

                                                                                                Đ.A

THEO GƯƠNG BÁC

Chuyển biến tích cực sau 5 năm thực hiện Chỉ thị 03 ở Đảng bộ xã Bình Sa

                                                                                          Phan Chiếm Trung

Việc thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị trong 5 năm qua ở Đảng bộ xã Bình Sa được tổ chức thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, hiệu quả. Cụ thể hóa tinh thần Chỉ thị 03, trên địa bàn xã có nhiều cách làm hay gắn việc thực hiện Chỉ thị với các phong trào thi đua thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương. Qua đó, đã tạo sự chuyển biến quan trọng trong nhận thức và hành động làm theo của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đồng thời, thắt chặt thêm mối quan hệ giữa Đảng với dân.

Triển khai thực hiện Chỉ thị theo hướng thiết thực, hiệu quả

Đảng ủy xã Bình Sa luôn xác định “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác” là nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên nhằm đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, góp phần tích cực vào công tác xây dựng Đảng và thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của địa phương. Để việc học tập và làm theo tấm gương của Bác thật sự có sức lan tỏa sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; Ban Thường vụ Đảng ủy đã thường xuyên chỉ đạo cho Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, ngành văn hóa, thông tin, Đài truyền thanh xã và lực lượng báo cáo viên, tuyên truyền viên tăng cường công tác tuyên truyền với nhiều hình thức đa dạng, nội dung phong phú. Điển hình như: Đài truyền thanh tăng cường thời lượng phát sóng giới thiệu các gương người tốt, việc tốt; thông tin tuyên truyền, cổ động trực quan bằng panô, khẩu hiệu, bia tường; tổ chức tuyên truyền trong các buổi sinh hoạt chi đoàn, chi hội... Ngoài ra, tổ chức các cuộc thi kể chuyện về Bác nhân dịp sinh nhật Bác, thuyết trình với hình thức sân khấu hóa.

Theo hướng dẫn của cấp trên, Đảng ủy thành lập Tổ giúp việc, xây dựng quy chế làm việc và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên; thường xuyên củng cố và duy trì hoạt động của Tổ giúp việc thực hiện Chỉ thị 03. Hằng năm, Đảng ủy đều xây dựng kế hoạch triển khai học tập các chuyên đề và tổ chức nghiêm túc việc quán triệt, học tập các nội dung chuyên đề cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Mặt khác, theo hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Huyện ủy, Đảng ủy đã xây dựng chuẩn mực đạo đức phù hợp đặc điểm của địa phương, nội dung chuẩn mực đạo đức đảm bảo ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, trên cơ sở đó, cán bộ, công chức và đảng viên tự đăng ký phấn đấu làm theo gương Bác phù hợp với lĩnh vực công tác và đây cũng là tiêu chí để đánh giá, xếp loại cán bộ, đảng viên cuối năm.

Gắn việc thực hiện Chỉ thị 03 với Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay, mà trọng tâm là khắc phục những hạn chế, khuyết điểm sau kiểm điểm tự phê bình và phê bình. Ban Thường vụ Đảng ủy tập trung lựa chọn và giải quyết những vấn đề bức xúc, tồn tại kéo dài trên các lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống; lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, quản lý hiện trạng, giải phóng mặt bằng... Từ đó, đã tạo được niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền. Cùng với đó, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt tự giác tu dưỡng, rèn luyện với những việc làm cụ thể, thiết thực.

Thực hiện tốt việc đưa nội dung học tập và làm theo tấm gương của Bác vào sinh hoạt thường xuyên ở chi bộ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các hội, đoàn thể. Ban Thường vụ Đảng ủy đã phân công các đồng chí cấp ủy viên trực tiếp phụ trách từng chi bộ để theo dõi, hướng dẫn sinh hoạt theo đúng hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương, định kỳ tổ chức họp giao ban để nắm bắt tình hình. Từng đảng viên đăng ký học tập và làm theo gương Bác bằng những việc làm cụ thể, thiết thực.

Đảng ủy đã chỉ đạo tập trung đẩy mạnh cải cách hành chính, chấn chỉnh lề lối làm việc, từ đó, tinh thần, trách nhiệm và phong cách phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức ngày một tốt hơn, tạo được niềm tin của nhân dân, sự đồng thuận của xã hội. Bên cạnh đó, còn chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ. Hằng năm, Đảng ủy đều đưa nội dung kiểm tra, giám sát việc thực hiện Chỉ thị 03 vào chương trình kiểm tra, giám sát; tổ chức sơ, tổng kết để đánh giá, rút kinh nghiệm gắn với biểu dương, khen thưởng những gương điển hình tiên tiến trong việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Xuất hiện những cách làm hay, điển hình tiên tiến

Qua 5 năm thực hiện Chỉ thị số 03 trên địa bàn xã đã xuất hiện một số cách làm hay, mô hình hiệu quả, điển hình như: Khối dân vận với việc xây dựng và nhân rộng các mô hình "Dân vận khéo"; Chi bộ thôn Bình Trúc với mô hình "Tiếng kẻng an ninh"; Chi bộ thôn Châu Khê với mô hình "Hội, họp đúng giờ"; chi bộ Trường Chu Văn An với mô hình "Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí"...

Một số mô hình của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và các Hội đặc thù gắn kết với các phong trào và mang lại hiệu quả thiết thực như: Mặt trận Tổ quốc với cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với xây dựng nông thôn mới", "Ngày vì người nghèo"; Đoàn xã với mô hình "Thắp sáng đường quê"; các hoạt động giáo dục truyền thống như "Thắp nén tri ân"; Hội Phụ nữ với phong trào "5 không 3 sạch", các mô hình "Nuôi heo đất", "Hũ gạo tiết kiệm", "Chi Hội phụ nữ với môi trường xanh, sạch, đẹp"; Hội Nông dân với các phong trào "Nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, giúp nhau làm giàu, giảm nghèo bền vững", "Nông dân chung tay xây dựng nông thôn mới"; Hội Người cao tuổi với phong trào "Tuổi cao gương sáng"...

Từ cách làm hay và các mô hình có hiệu quả đã nổi lên một số gương điển hình tiên tiến như: Đ/c Lê Xuân Đây - Đảng viên chi bộ thôn Tiên Đỏa, đã hỗ trợ trên hàng chục triệu đồng để giúp đỡ một số gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, học sinh nghèo vượt khó. Đ/c Phan Văn Thái - Bí thư Chi bộ thôn Châu Khê luôn tận tụy, gương mẫu, hết lòng vì công việc. Ông Liên Cường, hội viên Hội Người cao tuổi thôn Bình Trúc II đã hiến 74 cây cối các loại, đồng thời ông còn vận động các con hiến 89 cây cối các loại và trên 123m2 đất và ông Huỳnh Nho - hội viên Hội Người cao tuổi thôn Bình Trúc II hiến 88 cây cối các loại để bàn giao mặt bằng thi công tuyến kênh của Dự án Trạm bơm Tứ Sơn…

Đ/c Trần Ngọc Thọ - Bí thư Đảng ủy trao giấy khen cho các tập thể có thành tích trong “Học tập và làm theo Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị 05 năm (2011-2015)

Có thể nói, qua 5 năm thực hiện Chỉ thị số 03 ở Đảng bộ xã Bình Sa đã đạt được những kết quả tương đối toàn diện, có sức lan tỏa, tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

Đồng chí Trần Ngọc Thọ - Bí thư Đảng ủy cho biết: “Trong thời gian đến, Đảng ủy xã Bình Sa sẽ đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa từ việc học tập chuyển sang làm theo trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân theo phương châm "trên trước, dưới sau" kết hợp giữa "xây" với "chống".

                                                                                                          P.C.T

Học và làm theo Bác ở Chi bộ thôn An Thành 1- xã Bình An

                                                                                      Trung Hiếu

Thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trong 05 năm qua, chi bộ thôn An Thành 1 thuộc Đảng bộ xã Bình An đã nghiêm túc triển khai tổ chức thực hiện linh động phù hợp với thực tế của chi bộ để đạt hiệu quả cao nhất, gắn việc học tập và làm theo gương Bác với xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh, lãnh đạo thực hiện thắng lợi nghị quyết chi bộ đề ra trên các lĩnh vực.

Chi bộ thôn An Thành 1 hiện có 26 đảng viên, trong đó 09 đồng chí là hưu trí. Quán triệt, học tập Chỉ thị 03-CT/TW, chi bộ đã tập trung lãnh đạo nhân dân trong thôn làm theo lời Bác, noi gương Bác và hình thành ý thức chấp hành tốt mọi chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, có ý thức vì cộng đồng. Đảng viên chi bộ luôn là người tiên phong, gương mẫu đi đầu trong mọi hoạt động, phong trào thi đua. Cán bộ, đảng viên và nhân dân đã nhận thức đúng đắn, sâu sắc về ý nghĩa của việc học tập và làm theo gương Bác trong cuộc sống hàng ngày, nhất là những lời dạy của Bác về tăng gia sản xuất, tinh thần đoàn kết trong nhân dân, xây dựng nếp sống văn hoá,…từ đó, các phong trào thi đua được triển khai thực hiện có hiệu quả.

Xác định rõ chi bộ là hạt nhân chính trị ở cơ sở, là nơi gắn kết đảng viên với tổ chức đảng, là cầu nối quan trọng và trực tiếp giữa Đảng với nhân dân. Chi bộ thôn An Thành 1 luôn quán triệt xác định xây dựng chi bộ vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Thực hiện tốt chế độ sinh hoạt hàng tháng đảm bảo quy định theo Hướng dẫn số 09-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương. Chi bộ thường xuyên quán triệt, giáo dục cho đảng viên phải trau dồi đạo đức cách mạng, giữ vững phẩm chất chính trị, tuyệt đối tin tưởng vào công cuộc đổi mới của Đảng. Thể hiện tính tiền phong gương mẫu trong mọi hoạt động, luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, gần gũi với quần chúng nhân dân làm tốt 4 nhiệm vụ của người đảng viên và quy định về những điều đảng viên không được làm. Đặc biệt, trong sinh hoạt chi bộ đã thường xuyên trao đổi những chuyên đề về tư tưởng, việc làm của Bác, cũng như đánh giá việc làm của đảng viên về việc học tập và làm theo tấm gương của Bác theo bản đăng ký của đảng viên, qua đó tìm ra những hạn chế, khuyết điểm để khắc phục. Thông qua sinh hoạt chi bộ triển khai các mô hình như “Đảng viên chung tay vì người nghèo”. Kết quả, 5 năm qua đảng viên trong chi bộ và đảng viên sinh hoạt theo Quy định 76 của Bộ Chính trị đã ủng hộ được 15.550.000đ để giúp cho 2 hộ nghèo trong thôn thoát nghèo bền vững. Đồng thời, chỉ đạo các chi hội đoàn thể xây dựng và thực hiện các mô hình như: phụ nữ, nông dân, cựu chiến binh giúp nhau xóa đói giảm nghèo. Mô hình tổ dân phòng của cựu chiến binh, cựu quân nhân; chi hội phụ nữ thực hiện mô hình tuyến đường tự quản xanh, sạch, đẹp và tổ thu gom rác thải; chi đoàn thanh niên thực hiện mô hình thắp sáng đường quê…được triển khai đồng bộ và mang lại hiệu quả thiết thực.

Song song với việc lãnh đạo công tác Đảng, chi bộ đã tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế- xã hội và xây dựng nông thôn mới theo nghị quyết của đảng bộ xã đề ra. Thời gian qua chi bộ đã tích cực vận động nhân dân trong thôn chủ động trong sản xuất, gieo trồng hết diện tích, đảm bảo cơ cấu giống cây trồng hợp lý, chỉ đạo dồn điền đổi thửa của 2 tổ còn lại (tổ 7 và 8). Chủ động đưa cơ giới hóa vào các khâu làm đất, thu hoạch để tăng năng xuất và giảm thất thoát sau thu hoạch. Vận động nhân dân liên kết với công ty giống Quảng Nam, HTXNN Bình An II để sản xuất lúa giống; đồng thời phát triển các ngành nghề, dịch vụ, các mô hình sản xuất khác, tham gia gia công hàng tiểu thủ công nghiệp để tăng thu nhập cho gia đình. Từ đó, đời sống kinh tế của hộ gia đình trong thôn ngày càng khá giả, tỷ lệ hộ nghèo của thôn hàng năm đều giảm, năm 2011 thôn có 9,8% hộ nghèo đến năm 2015 giảm còn 3,7%. Hưởng ứng phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá khu dân cư, qua bình xét gia đình văn hoá hàng năm  thôn luôn đạt 80 đến 90% hộ đạt hộ gia đình văn hoá. Trong 2 năm 2014, 2015 thôn được huyện công nhận thôn văn hóa.

Việc xây dựng kết cấu hạ tầng cũng được Chi bộ quan tâm thực hiện. Chi bộ đã lãnh đạo hệ thống chính trị trong thôn vận động nhân dân góp tiền, công và vật chất để nâng cấp, sửa chữa nhà văn hoá thôn và nhà sinh hoạt tổ; làm đường bê tông thôn xóm với tổng kinh phí trên 987 triệu đồng, trong đó nhân dân đóng góp trên 475,9 triệu đồng tiền mặt và vật liệu, ngày công. Ngoài ra còn vận động nhân dân tham gia trên 500 công tu bổ các tuyến đường giao thông nông thôn, nội đồng và kiên cố hóa 1.200m kênh mương nội đồng. 

(Ảnh: Nhân dân trong thôn An Thành 1 đóng góp ngày công xây dựng đường giao thông nông thôn

Bên cạnh đó, Chi bộ chỉ đạo cho thôn đội phối hợp với các tổ tự quản để làm tốt công tác xây dựng, phát triển lực lượng dân quân mới theo chỉ tiêu giao. Vì vậy trong những năm qua tỷ lệ gọi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự, giao quân, phát triển lực lượng dân quân của thôn luôn đạt 100% chỉ tiêu giao. Thường xuyên chỉ đạo Ban công tác Mặt trận phối hợp với ban cán sự thôn, công an thôn tổ chức phát động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Phối hợp với chi hội cựu chiến binh, câu lạc bộ cựu quân nhân thành lập tổ dân phòng thôn. Qua đó tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn luôn được bảo đảm, không có điểm nóng xảy ra.

         Với những nỗ lực phấn đấu của tập thể chi bộ, trong 5 năm qua, Chi bộ thôn An Thành 1 luôn hoàn thành tốt các mục tiêu Nghị quyết của Chi bộ đề ra cũng như các chỉ tiêu về phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của xã giao, góp phần đưa xã Bình An là 1 trong 6 xã về đích xã nông thôn mới của huyện giai đoạn 2011-2015. Qua phân tích chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên hàng năm chi bộ đều đạt chi bộ trong sạch vững mạnh, riêng năm 2014, 2015 chi bộ đạt chi bộ TSVM tiêu biểu, số đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ qua các năm đều đạt từ 77 đến 80%, trong đó có từ 15 đến 17,6% đảng viên HTXSNV. Đồng thời, chi bộ đã vinh dự được UBND huyện tặng Giấy khen vì đã có thành tích trong “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” 5 năm 2011-2015 tại Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Huyện ủy vừa qua.

Thông qua việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác, bằng những việc làm cụ thể, thiết thực của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, bộ mặt kinh tế - xã hội thôn An Thành 1- xã Bình An đã có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống người dân từng bước được nâng lên. Đây chính là động lực để thôn An Thành 1 phấn đấu thực hiện tốt các nhiệm vụ xây dựng Đảng, phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh chính trị trong thời gian đến, góp phần cùng toàn Đảng bộ tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

                                                                                      T.H

Nữ Bí thư Chi bộ luôn hết mình với công việc

                                                                                      Thu Hạ

Chi bộ là hạt nhân chính trị ở cơ sở, là nơi gắn kết đảng viên với tổ chức đảng, là cầu nối quan trọng và trực tiếp giữa Đảng với nhân dân. Những năm qua, Chi bộ Thôn Quý Phước II thuộc Đảng bộ xã Bình Quý luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, là chi bộ nhiều năm liền đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh tiêu biểu. Để có được thành tích đó là nhờ có sự đoàn kết của cấp ủy, sự đồng lòng của đảng viên trong chi bộ, đặc biệt là vai trò của nữ Bí thư Chi bộ- Đ/c Lê Thị Dần.

Dù đã ở cái tuổi ngoài sáu mươi nhưng đồng chí Lê Thị Dần luôn để lại ấn tượng cho người đối diện bởi phong thái rất linh hoạt, nhanh nhẹn và am hiểu công tác xã hội. Phong thái ấy có thể được đúc kết từ những tháng năm công tác ở nhiều vị trí khác nhau, từ Phó Chủ tịch Hội LPHN, Phó Chủ tịch LĐLĐ, Quyền Trưởng Phòng Tư pháp huyện Hiệp Đức rồi chuyển về công tác tại UBMTTQ Việt Nam xã Bình Quý với vị trí Chủ tịch. Đồng chí Dần cho biết, quảng thời gian đó đã giúp đồng chí có được những kinh nghiệm trong công tác, đặc biệt là kinh nghiệm giải quyết những vấn đề phát sinh tại cơ sở. Năm 2010, đồng chí nghỉ hưu theo chế độ. Sau khi trở về địa phương, đồng chí Dần tham gia tích cực hoạt động của thôn. Trên cương vị Bí thư Chi bộ thôn Quý Phước II, từ năm 2010 đến nay, đồng chí luôn đặt hết tâm huyết, cống hiến sức mình cho hoạt động của chi bộ; luôn quan tâm đến từng đảng viên trong chi bộ và góp phần rất lớn trong việc xây dựng chi bộ nhiều năm liền đạt chi bộ trong sạch vững mạnh.

Là Chi bộ có số lượng đảng viên đông nhất của Đảng bộ xã Bình Quý (29 đảng viên), trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, chi bộ đã tổ chức thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị. Nổi bật là công tác chỉ đạo vận động thu nộp các loại quỹ đảm bảo thời gian và chỉ tiêu theo quy định. Đến đầu tháng 6/2016, chi bộ đã chỉ đạo và hoàn thành xong việc thu các loại quỹ, đạt 103% theo KH năm. Trong việc tổ chức thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị, chi bộ đã có nhiều cách làm hay hiệu quả; cụ thể như vận động mỗi đảng viên trong chi bộ đóng góp 10.000đ/tháng để mua xe đạp hỗ trợ cho các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn tại Trường TH Nguyễn Khuyến, và góp phần nâng cao cở sở vật chất tại Nhà văn hóa thôn; việc làm ý nghĩa này được duy trì thường xuyên và được đưa vào Nghị quyết hằng năm của chi bộ. Trong công tác BTTH- GPMB các dự án, nhất là dự án Đường Bình Quý- Bình Phú, cả hệ thống chính trị ở thôn vào cuộc, kết quả bà con trong thôn hăng hái bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư chỉ trong một tuần từ lúc triển khai. Đặc biệt, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, chi bộ đã lãnh đạo tổ chức tốt công tác tuyên truyền, vận động người dân thực hiện đồng bộ các tiêu chí, nhất là phong trào thu gom rác thải bảo vệ môi trường, đến nay hơn 76% hộ dân trong thôn tham gia đóng góp phí thu gom rác thải.

Đồng chí Dần còn đặc biệt quan tâm việc xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, xác định yếu tố quan trọng quyết định năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Chi bộ là đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Đồng chí Dần cho biết, tại các cuộc họp chi bộ, đối với nội dung cuộc họp bên cạnh việc bám theo Chỉ thị 10-CT/TW của Ban Bí thư và Hướng dẫn 09-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương thì phải cụ thể, không chung chung, rõ ràng từng nhiệm vụ và luôn gắn liền với tình hình thực tiễn của thôn ở thời điểm đó,... Không những thế, chi bộ luôn làm tốt công tác phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đảng viên và thường xuyên giám sát, kiểm tra, đánh giá kết quả công việc được giao của đảng viên đó ngay tại kỳ họp chi bộ tiếp theo.

 Với sự nỗ lực của cá nhân đồng chí Dần và sự đoàn kết của tập thể, liên tục từ năm 2010 - 2015, Chi bộ thôn Quý Phước II đều đạt tiêu chuẩn trong sạch, vững mạnh tiêu biểu và được nhận bằng khen của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam; 100% đảng viên trong Chi bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên. Hàng năm, trong thôn số hộ đạt gia đình văn hoá từ 85-90%, không có người sinh con thứ 3 trở lên, 100% học sinh trong độ tuổi đều đến trường, không có bạo lực gia đình. Đời sống bà con nhân dân ngày càng được nâng lên, an ninh chính trị được giữ vững, văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ.

Ảnh: Đ/c Trần Vũ Công- Phó Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy trao tặng Bằng khen của BTV Tỉnh ủy Quảng Nam cho Chi bộ thôn Quý Phước II có thành tích 05 năm liên đạt TSVMTB

Chia sẻ về kinh nghiệm để có được những thành quả trên, đồng chí Dần tâm sự: Để chi bộ luôn vững mạnh và có được những kết quả như hôm nay, tất cả đều nhờ vào sự đoàn kết và phối hợp nhịp nhàng giữa chi bộ, chính quyền và ban công tác Mặt trận, các tổ chức đoàn thể ở thôn. Đặc biệt, đối với công tác vận động quần chúng ở cơ sở, muốn đạt hiệu quả cao phải luôn gần gũi, tôn trọng, lắng nghe ý kiến chính đáng của nhân dân, nguyện vọng của bà con nhân dân, từ đó nghiên cứu, phối hợp tìm cách tháo gỡ. Đối với những trường hợp không giải quyết được, thì ngay lập tức lãnh đạo thôn phải kiến nghị Đảng ủy xã quan tâm giải quyết cho nhân dân. Với vai trò của một Bí thư chi bộ, bản thân trước hết phải gương mẫu, có tinh thần trách nhiệm, điều quan trọng phải làm sao quy tụ sự đoàn kết trong chi bộ, sự đồng thuận trong nhân dân. Nếu có các vấn đề phức tạp, nổi cộm nảy sinh đều được bàn bạc dân chủ, giải quyết thấu tình, đạt lý.

Nhận xét về đồng chí Lê Thị Dần, Ông Phan Văn Sau - Bí thư Đảng ủy xã Bình Quý cho biết: đồng chí Dần là một Bí thư chi bộ gương mẫu, trách nhiệm, luôn nhiệt tình trong các hoạt động, được bà con nhân dân tin yêu, mến phục. Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của đồng chí, Chi bộ Quý Phước II luôn hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ, nhiều năm liền đạt chi bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu, góp phần giúp Đảng bộ xã Bình Quý tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị.

Với những đóng góp đó, đồng chí Lê Thị Dần đã được nhiều cấp, ngành tuyên dương, khen thưởng trong hoạt động của chi bộ. Tại Hội nghị tổng kết 05 năm thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị của Huyện ủy, đồng chí vinh dự được UBND huyện Thăng Bình tặng giấy khen vì có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện Chỉ thị 03 về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

                                                                                                T.H

 

[Trở về]

Tin mới nhất

Tin cùng chuyên mục: